IndexCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Topic tất cả về Chú Đại Bi

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Topic tất cả về Chú Đại Bi   Mon Jun 25, 2012 11:08 am

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
2. Nam mô a rị da
3. Bà lô yết đế thước bát ra da
4. Bồ Đề tát đỏa bà da
5. Ma ha tát đỏa bà da
6. Ma ha ca lô ni ca da
7. Án
8. Tát bàn ra phạt duệ
9. Số đát na đát tỏa
10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da
11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà
12.Nam mô na ra cẩn trì
13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế
14.Tát bà a tha đậu du bằng
15.A thệ dựng
16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)
17.Na ma bà dà
18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha
19.Án. A bà lô hê
20.Lô ca đế
21.Ca ra đế
22.Di hê rị
23.Ma ha bồ đề tát đỏa
24.Tát bà tát bà
25.Ma ra ma ra
26.Ma hê ma hê rị đà dựng
27.Cu lô cu lô yết mông
28.Độ lô độ lô phạt xà da đế
29.Ma ha phạt xà da đế
30.Đà ra đà ra
31.Địa rị ni
32.Thất Phật ra da
33.Giá ra giá ra
34.Mạ mạ phạt ma ra
35.Mục đế lệ
36.Y hê di hê
37.Thất na thất na
38 A Ra sâm Phật ra xá lợi
39.Phạt sa phạt sâm
40.Phật ra xá da
41.Hô lô hô lô ma ra
42.Hô lô hô lô hê rị
43.Ta ra ta ra
44.Tất rị tất rị
45.Tô rô tô rô
46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ
47.Bồ đà dạ bồ đà dạ
48.Di đế rị dạ
49.Na ra cẩn trì
50.Địa rị sắc ni na
51.Ba dạ ma na
52.Ta bà ha
53.Tất đà dạ
54.Ta bà ha
55.Ma ha tất đà dạ
56.Ta bà ha
57.Tất đà du nghệ
58.Thất bàn ra dạ
59.Ta bà ha
60.Na ra cẩn trì
61.Ta bà ha
62.Ma ra na ra
63.Ta bà ha
64.Tất ra tăng a mục khê da
65.Ta bà ha
66.Ta bà ma ha a tất đà dạ
67.Ta bà ha
68.Giả kiết ra a tất đà dạ
69.Ta bà ha
70.Ba đà ma kiết tất đà dạ
71.Ta bà ha
72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ
73.Ta bà ha
74.Ma bà rị thắng yết ra dạ
75.Ta bà ha
76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
77.Nam mô a rị da
78.Bà lô kiết đế
79.Thước bàn ra dạ
80.Ta bà ha
81.Án. Tất điện đô
82.Mạn đà ra
83.Bạt đà gia
84.Ta bà ha.

***Nam Mô Quan Thê Âm Bô Tát***
Tên của bài kinh này là Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni cua Phật Quán Thế Âm. Gọi tắt là Chú Đai Bi. Chú Đại Bi có thảy là 84 câu, 415 chữ.


Được sửa bởi Admin ngày Mon Jun 25, 2012 11:12 am; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Đại ý Chú Đại Bi-Tỳ kheo THÍCH TÍN NGHĨA   Mon Jun 25, 2012 11:10 am


Chú Đại Bi & Lược Giải Chú Đại Bi

Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.

Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đá sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá (na ma bà tát đa *) na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, ta bà ha.

“Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đa da, ta bà ha.”. (3 lần)

(Ghi chú : (*) Trong bản Hán văn và hình thứ 16 có năm chữ nầy. Tuy nhiên, không biết lý do nào và vì sao đã mất hẳn sự trì tụng từ lâu qua các bản Việt văn? Chúng tôi cũng ghi ra cho rõ, để quý vị tham khảo và biết sự thiếu sót nầy.)

*

* *

Lược Giải Chú Đại Bi



1.- Dẫn nhập:

Chú Đại Bi được phát xuất từ sự xác quyết do kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Thường được gọi là Thần chú, Linh chú. Bởi vì ai tin và thành tâm hành trì thần chú nầy thì bản thân người ấy đã có đủ Đại bi tâm. Thần chú nầy do Bồ tát Quán Thế Âm nói ra và được chư Phật ấn chứng mà gần nhất là đức Thích Ca Như Lai Từ Phụ của chúng ta nghe và đức Thích Ca cũng ấn chứng.

Thần chú nầy có rất nhiều tên khác nhau như:

Quảng đại Viên mãn, Vô ngại Đại bi, Cứu khổ Đà la ni, Diên thọ Đà la ni, Mãn nguyện Đà la ni, Diệt ác thú Đà la ni, Phá ác nghiệp chướng Đà la ni, Tối siêu thượng Đà la ni,..

Những danh hiệu trên đây, đức Phật đã trực tiếp hướng dẫn cho ngài A Nan và Đại chúng biết. Nguyên Thần chú nầy tên rất dài: “Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng đại Viên mãn Vô ngại Đại bi tâm Đà la ni thần chú”. Bài chú gồm có 84 câu.

Đức Phật đã từng nói với Bồ tát Quán Thế Âm:

- “Hởi thiện nam tử, ngươi nên bền lòng trì tụng Thần chú nầy, sẽ có tác dụng lớn trong việc tế độ chúng sanh trong những ác nghiệp của các kiếp sau ....”

Căn cứ vào sự ghi chép trong kinh điển, lúc ấy Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nghe đức Phật hướng dẫn, Ngài liền phát nguyện trì tụng liên tục từ cảnh giới Sơ địa đến Bát địa và thẳng lên Bất động địa. Cũng từ đó, ngài phát đại nguyện: Cầu cho kiếp sau của ngài phổ độ cho hết thảy chúng sanh đều được vui thích và mong cho ngài được ngàn cánh tay, ngàn con mắt.

Sau khi phát nguyện xong, phút chốc, toàn thân ngài đã đầy đủ cả ngàn tay, ngàn mắt; tất cả mười phương đều chấn động và mưa hoa cúng dường. Chư Phật cũng phóng hào quang rực rỡ, soi khắp đó đây. Từ đó, Thần chú nầy mới có nhiều danh hiệu như vậy.

Đức Phật bảo ngài An Nan rằng:

Kết quả có được của Bồ tát Quán Thế Âm là do sự phát đại thệ nguyện vì chúng sanh.

Những ai phát nguyện nhất tâm trì tụng thì sẽ được tiêu trừ tội chướng trong đời nầy và kiếp vị lai. Trong giây phút lâm chung, nếu mình tự niệm hoặc được thiện tín thành tâm hộ niệm thì sẽ được vãng sanh hoặc đến quốc độ mà mình muốn đến. Có đức Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát thùy từ tiếp dẫn.

Những ai trong đời nầy, nhất tâm trì tụng Đại bi tâm chú thì sẽ được toại nguyện về 15 loại thiện sanh và trừ được 15 loại ác tử.

a. Mười lăm loại thiện sanh:

1. Nơi được sanh ra thường gặp năm điều lành.

2. Thường được sanh ở nước lành (thiện quốc).

3. Thường gặp thời hay, vận tốt.

4. Thường gặp được thầy sáng, bạn lành.

5. Thân các căn đều trọn vẹn, đầy đủ (lục căn hoàn cụ)

6. Đạo tâm luôn được thuần hậu, chơn chánh.

7. Không phạm cấm giới.

8. Tình anh em cốt nhục đều được thuận hòa, an lạc.

9. Trọn đời cơm áo đầy đủ, nhàn nhã.

10. Luôn luôn được mọi người kính mến, thương giúp.

11. Tài sản, của cải không bao giờ bị cướp đoạt.

12. Cầu gì đều được toại ý. (Sở cầu như ý)

13. Luôn được thiện thần, hộ pháp bảo vệ.

14. Nơi được sinh ra thường được nghe Phật thuyết pháp.

15. Khi nghe được Chánh pháp là hiểu ngay được thâm ý mà trực ngộ lời Phật dạy.

b. Mười lăm loại về ác tử:

1. Không bị chết khốn khổ về đói khát, loạn lạc.

2. Không bị chết vì giam cầm, đánh đập.

3. Không bị chết vì thù oán.

4. Không bị chết nơi trận địa.

5. Không bị chết vì thú dữ cắn xé.

6. Không bị chết vì rắn, rết cắn.

7. Không bị chết cháy hay chết đuối.

8. Không bị trúng độc khi ăn uống mà chết.

9. Không bị các loại trùng độc sát hại.

10. Không bị cuồng loạn hay thất vọng mà chết.

11. Không bị cây cối rơi trúng hoặc sa xuống hầm hố mà chết.

12. Không bị người khác trấn ếm, trù ẻo mà chết.

13. Không bị tà thần, ác quỷ làm hại để chết.

14. Không bị chết vì ác bệnh.

15. Không bị chết oan (tự tử, bất đắc kỳ tử, ...).

Vì những điều nêu trên, Chú Đại Bi có thể trừ được tất cả những tai nạn, những khổ nạn và thành tựu được những toại nguyện. Những ai chí thành trì niệm thì được những điều lợi ích như trên và sẽ được xa lánh mọi ưu bi, khổ não cho chính mình và có thể cứu giúp được tha nhân như Đại bi tâm của Bồ tát Quán Thế Âm.

2.- Giải thích:

Nam mô : tức là Quy y, nương về, nương theo,

Hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Tam bảo (Phật, Pháp Tăng),

Nam mô : tức là Quy mạng, cũng có nghĩa là Quy y,

A lị da : tức là Thánh,

Bà lô yết đế : tức là Quán,

Thước bát ra da : tức Tự tại,

Bồ đề tát đỏa bà da : tức là Giác hữu tình,

Ma ha tát đỏa bà da : tức là Đại giác hữu tình,

Ma ha ca lô ni ca da : tức là người có lòng đại bi. (Đại bi tâm giả),

Án : tức là Quy mạng,

Tát bàn ra phạt duệ : tức là Nhất thế tôn,

Số đát na đát tả : tức là Vị cứu hết thảy sự khủng bố,

Nam mô : tức là Quy mạng,

Nam mô tất cát (hay kiết) : tức là kẻ ở bên kia (Ư bỉ),

Y mông a lị da : tức là Thánh của chúng ta (Ngã thánh),

Bà lô cát đế, thất Phật ra lăng đà bà : tức là Quán tự tại Hương sơn,

Nam mô : tức là Quy mạng,

Na ra cẩn trì : tức là Uy lực của Thánh Quán tự tại, tên là Thanh cảnh chí tâm chơn ngôn,

Hê rị ma ha bàn đá sa mế : tức là Ta nay tuyên thuyết,

Tát bà a tha đậu du bằng : tức là Vị có hết thảy mọi sự hy vọng viên mãn và có ánh sáng rực rỡ,

A thệ dựng : tức là Không gì có thể so sánh được,

Tát bà tát đá : tức là Hết thảy mọi quỷ thần không thể đánh thắng được.

(* ma bà tát đá) na ma bà dà : tức là Đồng chơn,

Ma phạt đặc đậu : tức là Người có đạo tâm đang ở trong cõi mê khiến sớm cho được thanh tịnh,

Đát điệt tha : tức là Có nghĩa là,

Án : tức là Quy mạng,

A bà lô hê : tức là Bậc có trí tuệ sáng suốt,

Lô ca đế : tức là Quán tự tại,

Ca ra đế : tức là Đấng siêu việt thế gian,

Di hê lị : tức là Vị sư tử vương,

Ma ha bồ đề tát đỏa : tức là Đại Bồ tát,

Tát bà tát bà : tức là Hết thảy hết thảy,

Ma ra ma ra : tức là Ghi nhớ, ghi nhớ,

Ma hê ma hê rị đà dựng : tức là Tâm chơn ngôn,

Câu lô câu lô yết mông : tức là Làm sự nghiệp,

Độ lô độ lô : tức là Bảo trì, bảo trì,

Phạt xà da đế : tức là Người dạo chơi ở trên không (Du không giả),

Ma ha phạt xà da đế : tức là Người oai đức lớn (Ma ha) dạo chơi ở trên không (Đại du không giả),

Đà ra đà ra : tức là Bảo trì, bảo trì,

Địa rị ni : tức là Kẻ trì tụng,

Thất Phật ra da : tức là Vua Tự tại (Đế vương tự tại),

Dá ra dá ra : tức là hành động,

Mạ mạ phạt ma ra : tức là Không bị bụi bám vào (Vô cấu nhiễm),

Mục đế lệ : tức là Thể không nhơ nhớp (Vô cấu thể),

Y hê y hê : tức là Lời giáo dục, dạy dỗ (Giáo ngữ),

Thất na thất na : tức là Lời thề rộng lớn (Đại thệ nguyện),

A ra sâm : tức là vua (Vương),

Phật ra xá lị : tức là sự Giác ngộ kiên cố (Giác kiên cố tử),

Phạt sa phạt sâm : tức là Hoan hỷ, vui vẻ,

Phật ra xá da : tức là Trừ mọi độc hại do tham sân si gây nên,

Hô lô hô lô ma ra : tức là Làm phép không bị nhiễm ô (tác pháp vô cấu

nhiễm),

Hô lô hô lô hê rị : tức là mau chóng, mau chóng, tóc đã bạc rồi.

Ta ra ta ra : tức là Kiên cố vậy (kiên cố giả),

Tất rị tất rị : tức là Hoa sen,

Tô rô tô rô : tức là Cọng hoa sen,

Bồ đề dạ bồ đề dạ : tức là tỉnh ngộ, tỉnh ngộ,

Bồ đà dạ bồ đà dạ : tức là Dạy cho được Giác ngộ,

Di đế rị dạ : tức là Người có lòng từ bi,

Na ra cẩn trì : tức là Thanh cảnh, xinh đẹp,

Địa lị săt ni na : tức là Bền chắc và lanh lợi,

Ba dạ ma na : tức là Nghe tên (danh văn),

Ta bà ha : tức là Lòng mong mỏi được gặp thì sẽ được hiển hiện, sanh lòng hoan hỷ, viên mãn tới niết bàn,

Tất đà dạ : tức là Nghĩa,

Ta bà ha : tức là Bậc đã được thành tựu,

Ma ha tất đà dạ : tức là Bậc đại nghĩa,

Ta bà ha : tức là bậc đã được thành tựu lớn lao, đại thành tựu,

Tất đà du nghệ : tức là Vô vi,

Thất bàn ra dạ : tức là Bậc Đại tự tại,

Ta bà ha : Bậc Tự tại bởi Tất địa và Du già,

Na ra cẩn trì : tức là Hiền ái,

Ta bà ha : tức là Vì thanh cảnh viên mãn nên được thành tựu,

Ma ra na ra : tức là Như ý tối tôn,

Ta bà ha : tức là được Thành tựu,

Tất ra tăng a mục khư da : tức là Nghĩa thứ nhất của tiếng yêu thương (ái ngữ đệ nhất nghĩa),

Ta bà ha : tức là Tay cầm hoa sen,

Ta bà ma ha : tức là Đại thành tựu,

A tất đà dạ : tức là Không có gì so sánh được (Vô tỷ),

Ta bà ha : tức là Thành tựu,

Giả cát ra a tất đà dạ : tức là Không có gì để so sánh được,

Ta bà ha : tức là Thành tựu,

Ba đà ma yết tất đà dạ : tức là Đại nghĩa,

Ta bà ha : Đấng được khai ngộ vì nghe được tiếng pháp loa,

Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ : tức là Bậc hiền thủ thánh tôn,

Ta bà ha : tức là Thành tựu,

Ma bà lợi thắng yết ra dạ : tức là Anh hùng uy đức sanh tánh,

Ta bà ha : tức là Thành tựu, đại thành tựu (sự chinh phục tất cả ma chướng).

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Quy mạng Tam bảo (Phật Pháp Tăng),

Nam mô : tức là Quy mạng, quy y,

A lị da : tức là Thánh,

Bà lô cát đế : tức là Quán,

Thước bàn ra dạ : tức là Tự tại,

Ta bà ha : tức là Thành tựu,

Án : tức là Quy mạng, quy y,

Tất điện đô : tức là Khiến cho tôi sớm được thành tựu,

Mạn đà ra : tức là Chơn ngôn,

Bạt đà da : tức là Đều (Câu hay cu),

Ta bà ha : Thành tựu, sớm thành tựu.

3.- Đại ý của bài Thần chú:

Con kính cẩn cúi đầu trước ngôi Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nguyện xin quy y theo đức Thánh Quan Tự Tại. Con nguyện đem thân mạng mà quy y với đức đại Bồ tát có lòng đại từ đại bi, mà cầu xin sớm được thành tựu sự giác ngộ để cứu độ cho hết thảy chúng sanh do mê muội đang bị khủng bố trên thế gian nầy. Do đó, con đem cả thân mạng mà quy y với đức Đại Bồ Tát có lòng đại từ bi. Một lòng thề nguyện truyền bá rộng rãi lòng từ bi của đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát; lắng nghe tâm chơn ngôn (tổng trì pháp môn tâm chơn ngôn và Phật nội chứng), vâng theo mệnh của bổn tôn là Đại bi tâm đà la ni nầy mà hết lòng xưng tụng công đức Quán Tự Tại Bồ Tát, tất cả mọi hy vọng đều được viên mãn, làm sáng tỏ tính chất đồng thể đại bi thanh tịnh viên minh và làm cho tất cả quỷ thần đều không thể đánh thắng được uy lực to lớn của Ngài. Với những kẻ có đạo tâm, không bao giờ bị vô minh phiền não mê hoặc, không bao giờ bị đắm chìm trong cảnh mê muội, u tối và được dẫn dắt tới thế giới quang minh của đức Đại Bồ Tát. Trí tuệ quang minh được biểu hiện siêu tuyệt nhất thế gian là đức Bồ Tát có công đức vô cùng vĩ đại. Có đấng quy mạng giống như đức Tự Tại Sư Tử Vương Đại Bồ Tát. Ức niệm nói chung của bản thể tâm chơn ngôn của Bồ tát cũng giống như đi ở trên không trung để thuyết giảng chánh pháp một cách lớn lao và tự tại, hoặc là làm công việc tư duy về một công việc to rộng. Cũng như các bậc vua chúa, bất kể việc gì, đều được đức Bồ tát làm một cách tự do, tự tại. Được hành động bởi một thân thể thanh tịnh, không mảy may dơ bẩn, hoặc để trừ mọi hành vi dơ bẩn của ba cái độc hại là tham, sân và si; cũng như diệt trừ mọi ác ma độc hại ở trên thế gian nầy. Như thế sẽ nhanh chóng có mái tóc đẹp như hoa sen thanh tịnh và cầm lấy được hoa sen của đức Bồ tát. Giáo hóa được nghiệp ngu si của ta và chứng ngộ được lòng yêu thương vô bờ bến. Khiến được sanh lòng hoan hỷ của Bồ tát Quán Tự tại.

Muốn được tới cõi niết bàn (thành tựu viên mãn) sẽ được thấy cõi niết bàn, và cũng tới được cảnh giới Tất địa (nơi ngộ đạo) với Du già (tương ứng hiệp nhập) thì được tự do, vô ngại. Trong đó, cũng có kẻ không phải là loài người (mặt heo cổ xanh, có kẻ mặt sư tử), con nào từ bi thì biểu thị tay cầm hoa sen, để thâu nhiếp chánh pháp trừ ma quỷ phiền não. Nghe tiếng pháp loa vi diệu được chuyển mê khai ngộ, hết thảy đều quy y Tam bảo.

Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát, khiến cho được tới cõi niết bàn, để trì tụng lời chơn ngôn này ở nơi niết bàn thanh tịnh, trang nghiêm.

Trên đây là đại ý toàn bài Chú đại bi, mong quý vị đọc nhiều lần và thành tâm hành trì thì sẽ được như nguyện; đồng thời, một khi đã được thâm hiểu, xin quý vị hướng dẫn bằng hữu cùng tu tập theo, để gieo duyên với cảnh giới Thường Tịch Quang Tịnh Độ.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Những truyện linh ứng khi trì niệm Chú Đại Bi   Mon Jun 25, 2012 11:12 am

Đại Bi Trì Nghiệm
Truyện 1
24. Tát bà tát bà

Tát bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người.
Bằng cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương, Quỷ vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả tội nhân này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì sao vậy? Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.
Bảo ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành trì. Và sẽ đạt được sự an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”.
Người Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết sử dụng một ấn chú gọi là “Phiên thiên ấn”. Người con của Quảng Thành vương cũng có một phiên thiên ấn. Chính là ấn này vậy. Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán Thế Âm gọi là “Bảo ấn”.
Nếu quí vị dụng công hành trì thì nhất định sẽ thành tựu Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi, nếu có người vừa mới chết hoặc sắp chết, quí vị chỉ cần trì ấn này vào một tờ giấy, và viết vài dòng cho Diêm vương: “Hãy tha cho người này sống lại ngay. Hãy tha cho anh ta trở về dương gian”. Diêm vương không dám từ chối. Diệu dụng của Bảo ấn có thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng để sử dụng được Bảo ấn này, trước hết quí vị phải thành tựu công phu tu tập đã. Nếu công phu chưa thành tựu thì chẳng có kết quả gì.
Thế nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi học. Trước hết, quí vị phải vào tiểu học, rồi lên trung học, rồi thi vào đại học. Rồi cuối cùng có thể được học vị Tiến sĩ.
Tu tập để thành tựu Bảo ấn này cũng như đạt được học vị Tiến sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ Bảo ấn này không có gì so sánh được.
Tát bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho tất cả mọi loài chúng sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô biên đến như thế. Nên gọi ấn này là Bảo ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng được Bảo ấn này thì phải công phu tu trì qua cả bốn mươi hai thủ nhãn. Tát bà tát bà chỉ là một trong bốn mươi hai ấn pháp ấy mà thôi.
Có người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng: “Ta sẽ tu tập Bảo ấn này ngay để bất kỳ lúc nào có người sắp chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho Diêm vương không được bắt người ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí vị có thể giúp người kia khỏi chết, như ng đến khi quí vị phải chết, thì chẳng có người nào giúp quí vị thoát khỏi chết bằng Bảo ấn này cả.
Tôi đã có dịp sử dụng ấn này hai lần. Một lần ở Mãn Châu và một lần ở Hương Cảng. Lần ở Mãn Châu là trường hợp cứu một người sắp chết. Người này chắc chắn sẽ chết nếu tôi không sử dụng Bảo ấn này. Vào một chiều trời mưa ngày 18 tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao Đức Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi tôi đang ngụ. Anh ta quỳ trước tượng Phật, cầm một cây dao bọc trong giấy báo, chuẩn bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quí vị nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại. Tuy nhiên sự ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu đạo. Quí vị biết không. Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng gần chết. Do vì thường ngày mẹ anh ta nghiện thuốc phiện nặng. Nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện cũng không được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng ăn uống gì. Đầu lưỡi đã trở sang màu đen, môi miệng nứt nẻ. Bác sĩ Đông, Tây y đều bó tay, không hy vọng gì còn chữa trị được. Nhưng người con trai của bà nguyện: “Lạy Bồ – tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường chư Phật. Với lòng chí thành, con nguyện cho mẹ con được lành bệnh”.
Ngay khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh ta lôi lại đằng sau rồi nói: “Anh làm gì thế, anh không được vào đây mà tự sát”.
Anh ta trả lời:
- “Tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho mẹ tôi được lành bệnh. Ông đừng cản tôi”.
Chàng trai chống lại, nhưng người kia không để cho anh ta chặt tay nên liền cho người báo cho Hoà thượng trụ trì biết. Hoà thượng cũng không biết phải làm sao, Ngài liền phái cư sĩ Lý Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực của chùa đi tìm tôi.
Dù lúc ấy, tôi vẫn còn là chú Sa – di. Tôi được giao nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ dưới Hoà thượng trụ trì. Tôi chỉ là một chú tiểu, nhưng không giống như những chú tiểu cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi thức dậy trước mọi người và ngủ sau tất cả mọi người. Tôi làm những việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một ngày một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính là sửa đổi những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hoá được những lỗi lầm nhỏ nhặt ấy, có nghĩa là mình còn thiếu năng lực trong công phu.
Hoà thượng trụ trì giao việc đó cho tôi. Tôi liền đến bạch Hoà thượng:
- “Phật tử đến cầu Hoà thượng cứu giúp. Nay Hoà thượng lại giao cho con. Hoà thượng làm cho con thật khó xử”.
Hoà thượng trụ trì bảo:
- “Con hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ”.
Hoà thượng dạy những lời rất chí lý. Tôi vốn chẳng ngại khó nhọc, nên khi nghe những lời đó, tôi rất phấn khích, tôi thưa:
- Bạch Hoà thượng, con sẽ đi.
Tôi bảo chàng trai:
- Anh hãy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.
Anh ta nói:
- Nhưng thầy chưa biết nhà con?
Tôi đáp:
- Đừng bận tâm về tôi. Hãy cứ về nhà trước.
Lúc ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng. Anh ta đi theo đường lộ chính, còn tôi đi theo đường mòn. Nhà anh ta cách chùa chừng sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt khi về đến nơi, anh ta đã thấy tôi ngồi đợi anh trong nhà.
- Bạch thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến sớm thế?
Tôi nói:
- Có lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền hình gì đó.
Cậu ta đáp:
- Thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà.
Tôi nói:
- Có lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi, nên tôi đến trước.
Ngay khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu sống bà ta được. Nhưng tôi vẫn quyết định cố gắng hết sức để cứu bà. Tôi dùng Bảo ấn viết mấy dòng:
“Chàng trai này có tâm nguyện rất trí thành, nguyện chặt tay cúng dường chư Phật để cứu mẹ sống. Tôi đã ngăn cản anh ta chặt tay. Bằng mọi cách, xin cho mẹ anh ta được sống”.
Tôi gửi Bảo ấn đi, sáng hôm sau bà ta vốn đã nằm bất động suốt bảy, tám ngày nay, chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục.
- Phúc ơi... Phúc ờ... mẹ đói quá, cho mẹ tí cháo...
Chàng trai suốt bảy, tám ngày nay không nghe mẹ gọi. Nay cực kỳ vui sướng. Anh ta chạy đến bên giường nói với mẹ:
- Mẹ ơi, mẹ đã nằm liệt giường suốt tám ngày nay. Nay mẹ khoẻ rồi chứ?
Bà ta trả lời:
- Chẳng biết bao lâu nữa. Mẹ bị rượt chạy trong một cái hang tối đen thăm thẳm không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng ánh sao hay đèn đuốc gì cả. Mẹ chạy và cứ chạy hết ngày này qua ngày khác để tìm đường về nhà mình. Mẹ có kêu, nhưng chẳng ai nghe. Cho đến đêm hôm qua, mẹ mới gặp một vị sư khổ hạnh mang y cà sa đã mòn cũ, vị này đã dẫn mẹ về nhà... Con cho mẹ ăn tí cháo loãng để cho đỡ đói.
Người con nghe mẹ nói đến vị sư, liền hỏi:
- Nhà sư mẹ gặp dung mạo như thế nào?
Bà đáp:
- Ngài rất cao. Nếu mẹ được gặp lại, mẹ sẽ nhận ra ngay.
Lúc đó tôi đang nghỉ trên giường. Anh ta liền đến bên tôi, chỉ cho mẹ và hỏi:
- Có phải vị sư này không?
Bà nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên:
- Đúng rồi, chính thầy là người đã đưa mẹ về nhà.
Lúc đó, toàn gia quyến chừng mười người, gồm cả già trẻ, đều quỳ xuống trước mặt tôi thưa:
- Bạch Thầy, Thầy đã cứu mẹ con sống lại. Nay toàn gia đình chúng con cầu xin được quy y thọ giới với Thầy. Bất luận nhà chùa có việc gì, con nguyện đem hết sức mình xin làm công quả, và tuân theo lời chỉ dạy của Thầy để tu hành.
Về sau, dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và cầu xin tôi chữa bệnh cho họ. Tôi bảo:
- Tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đòn. Quí vị có chịu thì tôi chữa.
Họ đồng ý và tôi phải chữa. Có nghĩa là bắt người bệnh nằm xuống, đánh một người ba hèo bằng cái chổi tre. Đánh xong, tôi hỏi:
- Đã hết bệnh chưa?
Thật là ngạc nhiên. Họ lành bệnh thật!
Đó là một chuyện phiền phức xảy ra ở Mãn Châu. Lần thứ 2 tôi dùng Bảo ấn này là ở Hương Cảng. Khi bố của cô Madalena Lew 79 tuổi bị bệnh. Các vị bói toán đều bảo rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong năm nay. Ông ta đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo để cầu nguyện gia hộ cho ông được sống thêm ít năm nữa.
Ông thưa:
- Bạch Thầy. Xin Thầy giúp cho con được sống thêm một thời gian nữa.
Tôi bảo:
- Thế là ông chưa muốn chết. Tôi sẽ giúp cho ông sống thêm 12 năm nữa? Được chưa?
Ông rất mừng vội đáp:
- Thưa vâng, được như thế thật là đại phúc.
Rồi tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm 12 năm nữa.
Tuy nhiên, quí vị không nên dùng ấn pháp này để giúp cho người ta khỏi chết hoặc là cứu họ sống lại khi họ đã chết rồi. Nếu quí vị làm như vậy, quí vị trở nên đối đầu với Diêm vương. Lúc ấy Diêm vương sẽ nói:
- Được rồi. Thầy đã giúp cho người ta khỏi chết, nay Thầy phải thế mạng.
Đến khi quí vị gặp cơn vô thường; chẳng có ai dùng Bảo ấn này để giúp được cả. Nếu quí vị nghĩ rằng mình có thể sử dụng Bảo ấn để cứu mình khỏi chết là quí vị lầm. Diệu dụng của ấn pháp cũng giống như lưỡi dao, tự nó không thể cắt đứt được chuôi dao của chính nó. Nên khi quí vị gặp bước đường cùng, thì cũng giống như chuyện vị Bồ – tát bằng đất nung:
Bồ Tát bằng đất nung đi qua biển.
Khó lòng giữ thân được vẹn toàn.
Vậy nên nếu quí vị dù đã thông thạo trong khi sử dụng ấn pháp này, cũng phải công phu hành trì thêm. Vì lý do này mà tôi ít để ý đến việc riêng của người khác nữa.
Truyện 2
Địa lỵ ni
Địa lỵ ni. Hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ nhất là “thậm dõng” nghĩa là dũng khí mãnh liệt. Cũng có nghĩa là “tịnh diệt hoặc khiết tịnh”.
“Thậm dũng” là dạng tướng động.
“Tịnh diệt” là dạng tĩnh.
Còn dịch là “Gia trì và thôi khai”.
- “Gia trì” có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hoá, hướng về phụng hành theo thiện pháp.
- “Thôi khai” là làm cho các nghiệp chướng, tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Đây là Cu thi thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Gọi tắt là thiết câu ấn pháp, có công năng làm cho tất cả quỷ thần, thiên long bát bộ đến hộ trì cho hành giả. Nếu quí vị công phu hành trì thành tựu thủ nhãn này, thì có thể bảo thiên long làm mưa và sẽ có mưa ngay, nếu hành giả cần có gió, họ sẽ làm ra gió ngay, khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành hành thế gian nữa, mưa gió sẽ hết ngay.
Quí vị sẽ nói: “Tôi không tin như vậy”. Đúng vật! Đó chính là lý do mà tôi muốn nói cho quí vị nghe, tất cả chỉ là vì quí vị không tin. Không có niềm tin và không ở trong cảnh giới này thì khó lòng hiểu nổi.
Nếu muốn, quí vị có thể hỏi những người vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi nói chuyện với Phật tử ở Đài Loan qua điện thoại, họ cho biết trời đang mưa và rất lạnh. Họ mong muốn thời tiết được ấm áp và bớt mưa. Tôi bảo họ hãy yên tâm, chuyện đó sẽ xảy ra. Họ lại thắc mắc:
- Sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay sao?
Tôi chỉ nói vắn tắt:
- Quí Phật tử hãy đợi xem trời có tạnh mưa hay không?
Ngay khi tôi vừa cúp điện thoại, thì trời bắt đầu tạnh ráo. Họ đều cho đó là chuyện lạ kỳ. (Những ai đã đến Đài Loan năm 1969 để dự giới đàn, đều có thể chứng kiến chuyện này. Trời mưa dầm ở Keelong Đài Loan ít nhất cũng là 48 ngày, nhiều nhất là 53 ngày. Chúng tôi đang ở Đài Loan để thọ giới. Cả tự viện không còn chất đốt, một khi củi đã bị ướt rồi, thì không còn cách nào để sưởi cho khô lại được. Tuy nhiên,vào sáng ngày 18/4 như đã nói ở trên, đúng ngay lúc chúng tôi vừa chấm dứt cuộc điện đàm thì mặt trời vừa hiện ra, bầu trời trở nên sáng trong và khí trời trở nên ấm áp liền. Chú thích của người dịch từ Hoa văn sang Anh Ngữ).
Thực ra, đó chẳng phải là gì khác, chính là năng lực của thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Quí vị chỉ cần kiết ấn và gọi: “Thiên long, đừng làm mưa nữa!” thì trời sẽ dứt mưa ngay. Loài rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quí vị và chỉ khi quí vị đã thành tựu ấn pháp này và đã thông thạo thiết câu thủ nhãn. Rồng phun mưa sẽ tuân theo ấn pháp này và đình chỉ việc làm mưa liền.
Quí vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là như vậy. Bây giờ, tôi đang giảng kinh cho quí vị nghe và tôi đang nói với quí vị bằng chân ngữ. Đây không phải là chuyện nói đùa.
Truyện 3
Hô lô hô lô. Hán dịch là “tác pháp vô niệm” cũng dịch là “tác pháp tự tại”. Trong câu chú Hô lô hô lô ma ra đã giảng ở trước có nghĩa là “tác pháp như ý”, khi tác pháp vẫn còn khởi lên ý niệm. Còn trong câu chú Hô lô hô lô hê rị thì vắng bặt sự khởi niệm khi tác pháp. Nếu khi hành trì ấn pháp này, mà còn khởi niệm tức là còn vọng tưởng. Nếu hành giả không khởi niệm, tức là không còn vọng tưởng nên đạt được khả năng “tác pháp tự tại” và trở thành người có năng lực Quán Tự Tại. Đó chính là vị Bồ tát thường quán sát âm thanh ở thế gian để cứu độ một cách tự tại, Bồ tát Quán Thế Âm.
Câu chú này là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, là ấn pháp thứ ba trong số bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng giải thoát cho chúng sanh khỏi những tai ương bệnh hoạn.
Các vị xuất gia khi gặp người bệnh, trì chú này vào trong ly nước, cho người bệnh uống thì có thể được khỏi bệnh. Nếu bệnh không lành, thì phải quán sát lại toàn bộ nhân duyên. Nếu gặp duyên lành, khi quý vị uống nước có trì chú Đại Bi thì liền được lành bệnh, là do đã đặt hết niềm tin vào Bồ tát Quá Thế Âm. Nếu không được lành bệnh, có thể là do quý vị thiếu lòng tin nơi Bồ tát.
Sự thực là như vậy, nay tôi sẽ truyền pháp này cho quý vị luôn. Để cho ly nước có trì chú Đại Bi, có được năng lực như vậy, quý vị không cần phải trì tụng toàn văn bài chú này, mà chỉ cần trì tụng câu Hô lô hô lô hê rị năm lần rồi dùng tay kiết ấn ba lần búng vào phía trên ly nước. Rồi trao cho người bệnh uống sẽ được khỏi hẳn. Có khi bệnh không lành, có khi bệnh lành hẳn. Tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên giữa hành giả và người bệnh. Nếu quý vị có nhân duyên sâu dày với người bệnh, thì khi họ uống xong nước có trì chú Đại Bi liền được khỏi bệnh. Còn nếu người bệnh không có duyên với hành giả, thì dù họ có uống nước đã trì chú, nhưng vì họ không có niềm tin ở Bồ tát Quán Thế Âm, thì bệnh họ không được lành hẳn.
Nói chung có vô lượng nhân duyên để tạo thành pháp duyên cơ bản này. Nếu người bệnh đã có công phu hành trì và phát tâm chí thành, khi uống nước có trì chú vào là liền khỏi bệnh. Còn nếu quý vị có tu tập nhưng thiếu lòng chí thành, thiếu sự tin tưởng vào chú Đại Bi thì dù uống nước đã trì chú cũng chẳng ích lợi gì. Còn nếu quý vị có tâm chí thành và dù không tu tập đi nữa, thì khi uống nước đã trì chú cũng có được sự lợi ích. Những người vốn đã tạo nghiệp chướng sâu dày, nếu được uống nước đã trì chú vào thì không đủ tạo nên nặng lực để chuyển hóa bệnh của họ. Còn nếu người có nghiệp nhẹ khi uống nước đã trì chú vào thì có thể phát sinh năng lực to lớn. Đó là năng lực do thường xuyên trì niệm chú Đại Bi, đã tạo ra một năng lực cảm ứng đạo giao. Chính năng lực này đã chữa lành bệnh.
Thế nên bất luận trường hợp nào, có trùng trùng duyên khởi quyết định sự thành công. Đừng nghĩ rằng: “Tôi đã hành trì Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, tôi đã trì chú Đại Bi vào trong nước, tại sao chẳng có chút nào hiệu nghiệm?”
Đó chẳng phải là nước trì chú Đại Bi không có hiệu nghiệm. Chỉ vì công phu của quý vị chưa được đắc lực, nên hiệu quả không được bao nhiêu.
Có một số phái ngoại đạo cũng dùng pháp trì chú Đại Bi vào nước để chữa bệnh và đạt được công hiệu linh ứng. Đó là vì họ có sự trợ giúp của loài thiên ma khiến cho người được lành bệnh tin vào họ, rồi dẫn dắt vào hàng quyến thuộc của thiên ma ngoại đạo. Vì thế, tuy cũng hành trì một pháp môn mà có thiên sai vạn biệt kết quả.
Dùng nước Đại Bi để chữa bệnh cho người là một pháp môn thực hành Bồ tát đạo. Nhưng quý vị muốn tu pháp này trước hết phải thực hành mọi hạnh nguyện của hàng Bồ tát. Phải luôn luôn giữ tâm niệm “vô ngã”, “vô nhân”. Nghĩa là trong tâm không còn bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả nữa. Quý vị đừng nghĩ rằng: “Tôi chữa lành bệnh của chúng sanh được, khi tôi trì chú Đại Bi, tôi tạo ra được sự cảm ứng vô cùng lớn lao”.
Nếu quý vị khởi niệm như thế, nghĩa là quý vị đã khởi dậy ngã chấp. Với ngã chấp ấy, liền bị rơi vào ma chướng, dù quý vị không có tâm niệm ngã chấp nhưng rất dễ bị gặp ma chướng khi tu tập pháp môn này. Bệnh nào cũng do nghiệp chướng hoặc ma chướng. Nếu bệnh vì nghiệp, thì chẳng có vấn đề gì khi quý vị chữa trị cho họ. Còn nếu bệnh do ma chướng, khi quý vị chữa trị cho họ có nghĩa là quý vị tuyên chiến với ma vương, nó có thể hãm hại quý vị. Nếu đạo lực của quý vị chưa đầy đủ, quý vị có thể bị thu phục vào cảnh giới của ma. Còn nếu quý vị có được đạo lực và tạo được đôi chút ảnh hưởng với chúng, thì chúng sẽ liên tục tìm mọi cách để đánh bại quý vị.
Tôi vốn thích chữa bệnh cho mọi người nên khi có ai bị bệnh, tôi tìm mọi cách để chữa cho họ. Nhưng sau đó, tôi phải đối đầu với ma chướng rất trầm trọng. Ở Mãn Châu, có một loài thủy quái muốn dìm chết tôi, nhưng nó thất bại. Tuy vậy, có 50 – 60 người bị chết và hơn 800 căn nhà bị thủy quái này phá hủy. Sau đó, trên đường đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, loài thủy quái đó lại tìm cách lật thuyền của tôi, chỉ chút xíu nữa là tôi biến thành thức ăn của cá. Từ đó mỗi khi đi hoằng hóa đây đó, tôi thường ít khi chữa bệnh.
Thế nên chữa bệnh là cách tốt nhất để kết duyên, nhưng đó cũng rất dễ kết oán với quyến thuộc nhà ma. Nó có điểm tốt và cũng có điểm không hay. Nếu quý vị làm việc đó mà tâm niệm không vướng mắc vào bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì quý vị có thể xoay chuyển mọi tình huống. Còn nếu quý vị không tự chuyển hóa mọi tâm niệm của chính mình khỏi bốn tướng trên thì rất dễ rơi vào ma chướng. Cho nên, kết duyên với chúng sanh qua việc chữa bệnh cho họ là một vấn đề đòi hỏi năng lực tu tập rất cao.
HT Tuyên Hóa
Truyện 4
Thanh Biện Luật sư, người xứ Tây Thiên Trúc, sức học uyên bác, rất thâm về vô tướng tông. Các ngoại đạo nghe danh, đến vấn nạn đều bị ngài dùng nghĩa không mà phá tất cả. Có một lần, luận sư gặp một nhà ngoại đạo nổi tiếng là giỏi, 2 bên tranh biện nhau hơn nửa ngày, ngoại đạo bị khuất lý mà vẫn cố chấp không chịu thua. Do đó, tự thân bỗng biến thành đá. Đến 6 tháng sau, nghe sấm nổ mớI phục nguyên lại thành người như trước.
Về sau, ngài xem bộ luận về Hữu Tướng Tông của Hộ Pháp Đại Sư, đem nghĩa học của mình đối chiếu vẫn không phá hoại được, mới than rằng: 'Nếu không phải đức Di Lặc ra đời, thì ai giải quyết được mối nghi ngờ của ta?' Nhân đó, ngài đến trước tượng Quán Tự Tại Bồ Tát, tụng chú Đại Bi tùy tâm đà ra ni 3 năm. Một đêm, đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hiện sắc thân tốt đẹp đến hỏi: 'Ngươi tụng chú để mong cầu điều chi?' Luận sư đáp: 'Con nguyện lưu trụ thân đợi đến lúc Từ Thị Như Lai ra đờI để thưa hỏi về giáo nghĩa'. Bồ Tát nói: 'Thân người mong manh, cõi đời hư huyễn, sao không tu thắng hạnh cầu mong lên trời Đâu Suất, chẳng là mau gặp gỡ hơn ư?' Ngài thưa: 'Đức Di Lặc tuy hiện trụ nơi nội viện cung trời thứ tư, nhưng chưa thành Phật, vì thế con muốn đợi đến lúc ngài hiện thành chánh giác nơi cõi nhơn gian. Chí con đã quyết định, không thể lay chuyển'. Bồ tát bảo: 'Đã như thế, ngươi nên đi qua thành phía nam xứ Đại An Đạt La, thuộc về miền nam Thiên Trúc. Cách đó không xa, có một tòa sơn nham, chính là chỗ ở của thần Chấp Kim Cang. Sau khi đến nơi, ông nên đối trước sơn nham tụng chú Chấp Kim Cang Thần đà ra ni, sẽ được toại nguyện'.
Luận sư vâng lời, đi đến nơi, hành trì như thế. 3 năm sau, thần hiện ra và hỏi: 'Ông cầu nguyện điều chi?' Đáp : Tôi vưng lời đức Quán Thế Âm Bồ Tát mách bảo, đến đây trì tụng, nguyện lưu thân này sống mãi đợI đến khi Phật Di Lặc ra đời, xin tôn thần cho tôi được thành tựu như ý muốn'. Chấp Kim Cang thần bảo: 'Trong sơn nham này có cung điện của thần A Tu La, ông nên gia trì chú Đại Bi trong hạt cải trắng, rồi liệng vào thì cửa đá sẽ mở. Sau khi ấy, ông nên đi thẳng vào trong, sẽ có phương tiện để cho ông trụ thân lâu dài mà chờ đợi'. Luận sư hỏi: '— trong cung động, cách biệt ngoài trần, khi Phật ra đời làm sao tôi được biết?' Thần nói: 'Chừng ấy, tôi sẽ cho ông hay'.
Ngài Thanh Biện lại y lời, tinh thành tụng chú trong hạt cải 3 năm, rồi liệng vào sơn nham, bỗng thấy vách đá mở ra, trong ấy hào quang chiếu sáng. Lúc bấy giờ, có rất đông đại chúng tề tựu đến xem, bàn bàn luận luận quên cả trở về. Luận sư tướng trạng an lành, buớc vào cửa đá, rồi day lại nói: 'Tôi nguyện cầu đã lâu, muốn trụ thân này chờ đức Từ Thị ra đời, nhờ sức thánh linh, bổn nguyện từ đây đã toại, vậy đại chúng nên theo tôi, để được ngày kia thấy Phật nghe pháp'. Trong chúng nghe nói sợ hãi, cho là hang loại độc long, đi vào chắc mất thân mạng. Luận sư đôi ba phen gọi bảo, chỉ có 6 ngườI chịu đi theo mà thôi. Ngài từ tạ rồi dẫn 6 ngườI thong thả đi vào trong, cửa đá liền khép lại.
Lúc ấy đại chúng ở ngoài thấy vậy hết sức hối tiếc, trách mình đã nghĩ nói lỗi lầm. (trích Đường Tây Vực Ký)
Truyện 5
Nước Ma Già Đà xứ Tây Thiên Trúc, có một người phật tử tại gia, tánh ưa sắc đẹp. Một hôm, nhân xem kinh thấy nói hàng A Tu La, người nam tuy xấu, nhưng ngườIinữ lại xinh tốt tuyệt bậc, trong lòng sanh niệm mến thích, ước làm sao cùng được kết mối lương duyên. Không bao lâu, lại nghe nhiều vị bảo trong núi nọ có cung điện A Tu La rất nguy nga tráng lệ, báu lạ như thiên cung, liền quyết tâm trì chú Đại Bi 3 năm, cầu mong được viếng cảnh mầu để thỏa lòng ước nguyện khi trước.
3 năm đã mãn, ngườI ấy từ tạ thân hữu, và gọI một tên đệ tử cùng đi theo. Khi thầy trò đi đến trước núi, chí tâm tụng chú cầu nguyện, bổng cửa đá vụt mở, trong ấy lộ ra cung điện có quỷ thần canh giữ cực nghiêm. Vị phật tử liền bước đến nói rõ bổn nguyện của mình: trì chú muốn kết duyên cùng thần nữ A Tu La, xin nhờ thông báo, và thỉnh ý giùm. Kẻ giữ cửa vào thưa lại. A Tu La nữ nghe nói tỏ ý vui đẹp, hỏi: Đi đến có mấy ngườI? Đáp: Thưa hai người. Thần nữ bảo: Ngươi ra thuật lại ý ta đã thuận. Thỉnh ngườI trì chú mau vào, còn ông đồng bạn hãy tạm đứng ngoài cửa. Kẻ giữ cửa ra thưa lại, vị Phật tử liền đi vào trong.
Nhìn theo thầy mình đi rồi, người đệ tử còn đang bàng hoàng, bất giác bỗng tự thấy đã trở về đứng ở phía nam của nhà mình hồi nào không hay. Từ ấy về sau, ông này đã mấy lần đến chỗ cũ, song chỉ thấy vách đá đứng sững. Mây khói mịt mù, không còn được nghe biết tin tức gì bên trong nữa. Nhân đó, người đệ tử phát tâm lìa nhà tu hành, nguyện trọn đời ở nơi già lam cúng dường ngôi Tam bảo.
Khi ngài Huyền Trang sang Ấn Độ du học, đến trụ ở chùa Na Lan Đà, nghe chính ngườI đệ tử này thuật chuyện lại (trích Tây Quốc Chí).
Truyện 6
-Đời nhà Tống, Huệ Tài pháp sư, ngườI huyện Lạc Thanh, đất Vĩnh Gia, xuất gia hồi thuở còn bé, sau khi thọ đại giới, ngài đi tham học nhiều nơi mà không thông hiểu. Tự hận mình nghiệp chướng sâu dày, pháp sư thường tụng chú Đại Bi cầu cho được trí huệ. Hành trì đã lâu, bỗng một đêm ngài nằm mộng thấy một vị phạm tăng cao vài trượng, cởi áo ca sa đắp lên mình. Sau khi thức dậy, pháp sư thấy tâm trí tỏ sáng, những kinh nghĩa đã nghe từ trước đến giờ, một lúc đều nhớ rõ ràng thông suốt.
Về sau, ngài tham yết Từ Vân Sám chủ, hằng theo phục dịch gần bên, chỗ giải ngộ càng thêm sâu sắc. Niên hiệu Trị Bình năm đầu, ngài trụ ở Pháp Huệ bảo các, được vua tứ hiệu Quảng Từ. Không bao lâu, pháp sư lại thối cư về ở bên tháp Lôi Phong, tinh tu về môn Tịnh Độ. Ngài thường đứng co một chân trì chú Đại Bi 108 biến, lấy đó làm thường khóa. Lại đứng dở chân 1 ngày 1 đêm niệm thánh hiệu Di Đà. Một đêm, pháp sư mộng thấy mình đến chỗ cảnh giớI sáng suốt, nhiều cung điện lâu các trang nghiêm, có người bảo: 'Tịnh độ trung phẩm là nơi thác sanh của ông'.
Mùa xuân niên hiệu Nguyên Phong năm đầu, ngài vì hàng đạo tục ngàn người, truyền giới ở Lôi Phong, khi vừa mớì làm phép yết ma, nơi đỉnh tượng đức Quán Thế Âm bỗng phóng ánh sáng rực rỡ, đèn đuốc cùng ánh mặt trời thảy đều lu mờ. Ngài Thủ Nhứt Thiền Sư ở chùa Tịnh Từ vì đó làm bài Giới Quang Ký.
Ngày 21 tháng 5 niên hiệu Nguyên Phong thứ 6, pháp sư tắm gội thay y phục lên giảng tòa, đề bài kệ khen Phật, rồi bảo đại chúng: 'Ta chắc chắn được sanh về Tịnh Độ', nói xong, ngồi yên lặng mà tịch, thọ được 86 tuổi. (trích Phật Tổ Thống Ký)
Truyện 7
- Đời nhà Thanh, Ngô doãn Thăng người ở Huy Châu, huyện Hấp, lúc tuổi trẻ thường qua lại buôn bán ở 2 châu Tô, Hàng. Một hôm, nhân có dịp đi qua Hồ Khâu, tình cờ gặp vị tăng đang hóa trai. Vị này nhìn chăm chú vào mặt ông một lúc lâu rồi nói: Ngươi cũng có căn lành, nhưng tiếc vì đến lúc 29 tuổi bị nạn chết đắm. Biết làm sao? Doãn Thăng sợ quá, cầu phương pháp giải thoát. Vị tăng trầm ngâm giây phút rồi bảo: Từ đây về sau, ngươi nên giớI sát, phóng sanh, niệm Phật và trì chú Đại Bi, may ra có thể khỏi được. Ngô Doãn Thăng y lờI, về nhà trì chú, niệm Phật và thường lấy đó khuyên người.
Qua năm 29 tuổI, ông thuê thuyền từ Hàng Châu về quê quán, bạn đồng hành có 16 người. Thuyền ra đi được vài mươi dặm, bỗng gió to sóng lớn nổI lên, thế rất nguy cấp. Doãn Thăng chợt nhớ lờI vị tăng nói khi trước, vộI vã chắp tay tụng chú, niệm Phật. Giây phút thuyền chìm, tất cả ngườI đi trong ấy đều bị sóng gió trôi giạt. Trong lúc hôn mê, ông bỗng nghe tiếng nói: Ngô Doãn Thăng có công trì chú niệm Phật và khuyên ngườI, được khỏi tai nạn này! Mở mắt tỉnh ra, nhìn xung quanh, ông thấy mình đã được dân chài lướI vớt lên bờ, y phục ướt đẫm, mũ giày đều bị nước cuốn đi mất, duy nơi tay còn cầm chắc xâu chuỗi 18 hột thường dùng để tụng niệm hằng ngày. Hỏi ra, thì 16 ngườI kia đã bị nước cuốn đi không tìm thấy tung tích.
Từ đó về sau, ông tin tưởng công đức niệm phật, trì chú không thể nghĩ bàn, từng dùng hương viên đốt nơi cánh tay thành bốn chữ 'cầu sanh Tây phương'. Khi gặp ai ông cũng nói lý nhân quả, khuyên việc tu hành. Có được tiền, ông làm những công đức: tạo tượng, cất chùa, phóng sanh, bố thí, cùng các việc phước thiện khác. Danh lành của ông càng lúc càng truyền xa, cho đến tại vùng Hàng châu, tên Ngô Doãn Thăng đàn bà, trẻ con đều biết..
Ngày mùng một tháng năm, niên hiệu Đạo Quang thứ 9, khi lâm chung, ông giữ chánh niệm phân minh, tự nói: 'Tôi thấy vô số Bồ Tát đi kinh hành ở trước mặt tôi' Nói xong, ngồi yên mà qua đờI, năm đó ông được 66 tuổI (trích Nhiễn Hương Tục Tập)
Truyện 8
-Thời Trung Hoa Dân Quốc, ở Thai Châu có vị tăng hiệu Thích Kim Trược, xuất gia nơi chùa Diên Thọ hồi 8 tuổI, đến 20 tuổI, thọ đại giới tại chùa Quốc Thanh. Trên đường tu hành, vị đại đức thầy thế độ của ông, chỉ khuyên tụng chú Đại Bi và trì thánh hiệu Quán Thế Âm, y lời mỗI ngày sư tụng chú 48 biến, ngoài ra chỉ chuyên tâm niệm thánh hiệu không cho gián đoạn. Trì tụng lâu ngày, những thói quen trần nhiễm lúc trước lần lần tiêu mòn, tâm tánh lần lần tỉnh sáng, ông xem danh lợi cuộc đời như mây bay bọt nước. Sư thường vì ngườI trị bịnh rất là hiệu nghiệm, nhưng không thọ tiền thù đáp. Có nhiều kẻ cầu hỏi xin truyền cho phương pháp, ông bảo: 'Tôi chỉ trì chú Đại Bi và niệm Quán Thế Âm mà thôi'. Trong năm Mậu Thìn (dân quốc), sư trụ ở một am nhỏ, ban đêm bị ăn cướp vào khảo tiền. Sau khi chúng xét khắp am, thấy không có chi, nổI giận, đâm ông một dao ở tay mặt và hai dao ở bên trán. Thương thế tuy nặng, nhưng sư không chết. Vết đâm cũng dần lành, để lại ba dấu thẹo lớn ăn sâu vào. Đây cũng là nghiệp trái nhiều kiếp, do công đức trì niệm, nên chuyển quả báo nặng thành ra quả nhẹ ở hiện đời. Mùa hạ năm Kỷ Tị, sư đến Ninh Ba định an cư ở chùa A Dục Vương, nhưng vì số dự chúng đã đủ, mấy lần xin gia nhập, cũng không được hứa nhận. Chưa biết sẽ đi về đâu, ông ngồi tĩnh tọa trọn nửa ngày, không có lời hờn trách, sắc oán hận. Vị giám tự tăng thấy thế, đưa sư đến tạm ở nơi Dưỡng tâm đường. Ngày mãn hạ, vị tăng quản đường lại theo quy lệ, không cho ở. Sư bảo: 'Chẳng bao lâu tôi sẽ sanh về Tây phương, xin từ bi cho tôi lưu lại trong một thời gian ngắn nữa'. Đến ngày 19 tháng 10, sư nói vớI đại chúng rằng: 'Trong vòng 3 hôm nữa, tôi sẽ thoát ly biển khổ, sanh về Cực Lạc, xin khuyên bạn đồng tu thành tâm trì chú niệm Phật hoặc niệm Quán Âm, quyết định sẽ được vãng sanh. Vì Phật không bao giờ nói dối'. Lại bảo đức Quán Thế Âm Bồ tát tay cầm đài bạc thường hiện ở trước tôi'. Chúng cho là lờI nói phô, tỏ vẻ không tin. Qua ngày 21, trước giờ ngọ, sư đắp y len chánh điện lễ Phật, lại đến trước vị tăng quản đường từ tạ, nói sau giờ ngọ thờI mình sẽ vãng sanh. Lúc ấy, mọI ngườI còn cho là lờI nói dối. œến giờ ngọ, sư cùng đại chúng thọ trai, ăn đủ hai chén như mọI ngày không giảm. Lại bảo bạn đồng liêu rằng: 'Theo quy lệ của nhà chùa, ngườI chết đưa thi hài vào núi sâu, tiền công khiêng đi phải bốn giác. Nay tôi không có vật chi, chỉ còn đôi dép, xin phụng tặng, nhờ thầy lo liệu giùm việc ấy'
Quả nhiên, sau thờI ngọ một giờ, sư ngồi day mặt về Tây, an ổn mà hóa. (trích Du Huệ Úc Sao Tập)
Truyện 9
- Ấn Quang đại sư, một vị cao tăng cận đại ở Trung Hoa, thuở sanh bình, hết sức tự tu và hoằng hóa pháp môn tịnh độ, thường khóa của ngài ngoài thờI niệm Phật chánh thức, lại kiêm trì chú Đại Bi. Đại sư tu hành tinh tấn, sức từ bi cảm hóa đến hàng dị loại.
Năm Dân quốc thứ 19, ngài trụ ở chùa Báo Quốc, tại Thái Bình, trong tịnh thất, bỗng sanh ra vô số rệp, nhiều cho đến nỗi nó bò lên song cửa, trên mặt bàn. Có mấy vị đệ tử lo nghĩ đại sư già cả, không kham chịu sự quấy nhiễu, đôi ba phen xin vào trong thất dọn bắt. Ngài không cho và bảo: 'Việc này chỉ trách mình kém đạo đức mà thôi. Thuở xưa một vị cao tăng cũng bị loài rệp phá rối, chịu không kham. Quở bảo nó phải dờI đi nơi khác, chúng liền đem nhau bò đi. Nay ta tu trì bất lực, nên không được sự cảm ứng như thế, lại còn nói gì?' Ròi đại sư vẫn an nhiên mà ở, không để ý đến. Ít lâu sau, loài rệp bỗng nhiên tuyệt tích, ngài cũng không nói cho ai biết. Lúc ấy, gần tiết Đoan Ngọ, Đức Sum pháp sư chợt nhớ đến việc trước hỏi thăm, ngài bảo: 'đã đi hết từ lâu, không còn con nào nữa'. Pháp sư cho là ngài lớn tuổI, mắt mờ yếu nên không thấy, quyết ý xin vào trong xem lại, quả nhiên chúng đã đi đâu hết sạch. Hay là nó cũng vì ngài dờI chỗ ư?
Đại sư thường gia trì chú Đại Bi vào nước, gạo hoặc tro sạch để cứu những chứng bịnh mà các y sư đều bó tay, hiệu nghiệm lạ lùng. Một ngày, nơi lầu Tàng Kinh của chùa phát hiện ra vô số mối trắng, đại sư ở trong thất, nghe nói, liền trì chú vào nước bảo rưới lên chú nguyện, loài mối cũng kéo nhau đi mất.
Những đệ tử ở xa bị bịnh dây dưa không hết, ngài khuyên nên trì chú vào gạo nấu ăn cho đến chừng nào hết bịnh mới thôi. Phương pháp đó gọi là Đại Bi Phạn. Cách nấu cơm, theo đại sư, nên khéo nấu gạo nước cho vừa chừng, đừng đổ nước nhiều rồi chắt ra, vì như thế đã hao củi lại mất chất bổ trong cơm, làm phí phạm của tiền mà tổn phước. Thuở còn nhỏ, ngài hay đau yếu, có ngườI giỏi về tướng pháp cho rằng chỉ thọ đến 38 tuổI là cùng. Nhưng sau đại sư sống khoẻ mạnh đến 80 tuổI mớI vãng sanh. NgườI chí tâm tu niệm hay cải đổI số mạng. Việc ấy quả có như thế ư? (trích Quang Đại Sư truyện ký)

Lời bạt:

Đời càng đi sâu vào mạt pháp, sự khổ của nhơn loại càng thêm nhiều. Đó cũng là cộng nghiệp của chúng sanh chứa góp từ nhiều kiếp trước đến kiếp này, đã tới kỳ bộc phát. Túc nghiệp đã sẵn, hiện nghiệp lại giúp duyên, như lửa gặp được dầu càng thêm lan cháy!
Thế giới ngày nay, chiến tranh hết nơi này đến nơi khác, nhiều chứng bịnh lạ nảy sanh, trộm cướp hoành hành, nhơn dân nghèo khổ. Mỗi năm những tin tức bão lụt, động đất, nắng hạn, mất mùa, ở khắp các xứ không biết là bao nhiêu! Cảnh đã như thế, con người phần nhiều càng hung ác, gian xảo, không biết tỉnh thức ăn năn. Những thảm trạng do lòng tham địa vị, tình ái, tiền tài, kết quả gây ra tàn hại lẫn nhau cũng không xiết kể!
Kinh Hoa Nghiêm nói: 'Tâm như người họa khéo, vẽ vời cảnh thế gian'. Cảnh đời vui khổ đã do hành vi lành dữ phát sanh từ tâm niệm của loài người thì muốn làm dịu bớt thảm trạng ngày nay, mỗi người phải tự tỉnh, ăn năn, giữ tám chữ: trung, hiếu, đễ, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ và tấm lòng chân thật ngay thẳng, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài ra, muốn tiêu trừ nghiệp chướng, tránh khỏi họa tai, người biết Phật pháp lại cần phải cầu nơi tha lực như tu các hạnh niệm Phật, niệm Quán Thế Âm hoặc thọ trì mật chú nữa. Xem kinh Quán Âm Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, tôi thấy những công đức an vui, thoát khổ trong ấy rất cần thiết đối vớI hiện cảnh ngày nay, nhân có một Phật tử yêu cầu phiên dịch, tôi liền vui lòng hứa nhận.
Theo trong Hiển Mật Viên Thông, người tu Chân ngôn về sắc trần cần phải rõ rệt, như quán nước phải ra nước, quán lửa phải ra lửa, chớ không thể khác được. Riêng về thinh trần thì dù tiếng tăm đọc tụng có trại vớI Phạm Âm đôi chút cũng không sao, miễn có lòng tin tưởng chí thành là được công hiệu. Vì thế, từ trước đến nay, hàng Phật tử ở Trung Hoa cho đến VN ta, khi đọc tụng chú, thật ra đều trại vớI chánh âm, song vẫn cảm được oai thần công đức không thể nghĩ bàn. Vậy người học Phật, muốn trì chú, đừng lấy điểm này làm nghi, mà mất phần lợi ích.

Lại từ trước đến nay, chú ngữ không phiên dịch vì 5 duyên cớ:
1. Vì tâm niệm bí mật nên không phiên dịch.
Như chúng sanh dùng tâm yên lặng, tin tưởng, thành kính mà niệm chú, tất sẽ khế hợp vớI chân tâm của Phật, Bồ Tát mà được cảm ứng. Nếu biết nghĩa lý thì dễ sanh niệm phân biệt, cho đoạn này nghĩa như vầy, đoạn kia nghĩa như thế, kết cuộc vẫn ở trong vòng vọng tưởng, làm sao thông cảm với Phật tâm?
2. Vì nghĩa lý bí mật nên không phiên dịch.
Trong một chữ chân ngôn có nhiều nghĩa, nếu dịch nghĩa này thì mất nghĩa kia. Không được toàn vẹn. Thí dụ, riêng một chữ A đã hàm súc những nghĩa như bất sanh, bất diệt, không, căn bản, chân thể, và nhiều nghĩa khác nữa.

3. Vì danh tự bí mật nên không phiên dịch:
Nhiều chữ trong chân ngôn, hoặc chỉ cho danh hiệu Phật, Bồ Tát, Thiên, Long, Quỷ Thần, như chữ Hồng gồm 4 chữ Hạ, A, Ô, Ma hiệp thành, chỉ cho chủng tử của chư thiên. Hoặc có thứ ở phương này không có, như danh từ Diêm Phù thọ chẳng hạn.
4. Vì âm thanh bí mật nên không phiên dịch:
Các chữ chân ngôn có khi diễn tả âm thanh của tiếng gió reo, nước chảy, tiếng loài chim kêu, đọc lên có sức linh động, nên để nguyên âm. Thí dụ: câu tô rô tô rô là chỉ cho tiếng lá cây ở cõi Phật rơi xuống. Hoặc như chữ Án, đọc lên có năng lực thầm kín, làm rung chuyển không gian. Hay như chữ Ta Bà Ha có sức truyền cảm như một sắc lịnh. Lại có nhiều danh từ nguyên chữ Phạn sẵn từ trước đến nay, vì thuận theo xưa, nên không dịch ra.
5. Vì sự sanh thiện bí mật nên không phiên dịch.
Như danh từ bát nhã, người đọc lên sanh lòng tin tưởng, phát ra niệm lành, nếu dịch là trí huệ thì sanh lòng khinh thường, không quí trọng.
Trên đây là những nguyên nhân vì sao chú ngữ không dịch ra, chớ chẳng phải là không có ý nghĩa. Người học Phật phải nên xét nghĩ, chớ vội theo chỗ thấy hiểu cạn hẹp của mình, sanh lòng khinh mạn mà mang tội.
Lại trong kinh có câu: 'Nếu tụng trì đúng pháp, tự nhiên sẽ được hiệu quả'. Vậy tụng trì đúng pháp là sao? Trong đây xin chia ra hai phương diện:
a. Về mặt giữ gìn giớI hạnh: NgườI trì chú cần phải giữ trai giới, trừ sát, đạo, dâm, vọng, kiêng cữ rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi cùng các thức ăn hôi hám. Thân thể thường phải năng tắm gộI, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu xong, phải rửa tay đọc chú. Trước khi trì chú phải súc miệng cho sạch. Lại nữa, trong thời gian kiết thất trì chú, ngườI ấy chớ nên nói chuyện hí hước tạp nhạp, không nên khởi tâm hờn giận, hoặc tham tưởng sự ăn uống ngủ nghỉ hay sự dục lạc ngoài đời. Phải giữ lòng thanh tịnh, tin tưởng, thành kính.
b. Về mặt lập đàn tụng niệm:
Theo đúng pháp, người trì chú nào phải thờ vị Bổn Tôn của chú ấy. Như trì chú Đại Bi thì phải thờ tượng Thiên Nhãn, hoặc tượng Quán Âm 24 tay, 18 tay, 8 tay, 4 tay hay ít lắm là tượng Quán Âm thường cũng được. Nên để tượng day mặt về phương Tây. Theo quyển Bách Lục Thỉnh Quán Âm Nghi thì nếu có tượng Bổn Sư nên để tượng Thích Ca hướng về phương Nam, tượng Quán Âm hướng về phương Đông. Đàn tràng nên lựa chỗ vắng lặng sạch sẽ, thường dùng hương, hoa, nước trái cây, cùng các thứ ăn uống cúng dường tôn tượng. Nếu có phương tiện, treo tràng phan, bảo cái lại càng tốt. Thời gian cầu nguyện hoặc 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày nên giữ cho đúng. Trước khi vào đàn, phải kiết giới y như kinh đã chỉ dạy. Trong một ngày đêm, chia ra làm 3, 4 hoặc 6 thờI, tụng niệm tiếp tục, tiếng tụng cần phải rành rẽ, rõ ràng. Ngoài ra, nghi thức lễ bái, trì niệm cũng cần phải biết và học thuộc trước.

Trên đây là nói về cách lập đàn kiết giới tụng niệm để cầu cho được mau hiệu nghiệm, nếu người thường tụng trì, không bắt buộc phải theo lệ ấy. Nhưng trong 2 phương diện trên, gắng giữ được phần nào lại càng hay.
Chúng sanh căn cơ, tâm bịnh, sở thích vô cùng. Giáo môn của Phật, Bồ Tát cũng chia ra vô lượng, dịch ra quyển này, tôi chỉ kính vâng theo bi nguyện của chư Phật, Bồ Tát, và thuận với sự mong cầu, thích hợp của hành nhơn mà thôi. Nếu vị nào lấy tâm Bồ Đề làm nhân, tùy theo chí nguyện, lựa một pháp môn tu đều có thể giải thoát. Nhưng, chúng sanh đờI mạt pháp, phần nhiều là hàng trung, hạ, ít có bậc thượng căn, cần nương nhờ nơi tha lực mới mong được kết quả chắc chắn. Tịnh tông và Mật Tông đều thuộc về tha lực pháp môn, mà Tịnh tông lại là chỗ quy túc cho các tông khác. Nguyện xin các đồng nhơn, từ đây dứt dữ làm lành, tin sâu lý nhân quả, rồi hoặc chuyên niệm Phật, hoặc lấy niệm Phật làm chánh, tụng kinh, trì chú, tham thiền làm trợ, để tự tu và khuyên người. Như thế mới là mưu hạnh phúc cho chính mình, cho thân nhơn và tất cả sanh loại. Như thế mới có thể chuyển họa thành phước, đổi cảnh trạng thống khổ trước mắt thành cảnh giới an ổn, vui tươi. Để rồi ngày lâm chung, lại được cùng nhau chân bước lên chín phẩm liên đài, thân ra khỏi 3 ngàn thế giới, thấy Di Đà trong hiện kiếp, chứng đạo giác nơi tương lai. Như vậy chẳng quý hơn ư?
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Linh ứng chùa Châu An   Mon Jun 25, 2012 11:13 am

THẦN CHÚ GIẢI ĐẶNG NGHIỆP CHƯỚNG CHO SÁNG MẮT
Tôi ni sư Thích Nữ Lệ Phát trụ trì chùa Châu An số 498/1/2 Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Tôi xin kể ra đây một sự thật 100% sự mầu nhiệm linh ứng của oai thần lực chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM, để quí tu sĩ cùng Phật tử trong và ngoài nước khi đọc xong bài nầy phát tâm trì niệm thần chú để cùng cộng hưởng phước báu của chư Phật.
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Tôi xin nói sơ về nguyên nhân nào mà tôi trì chú. Vị đạo sư truyền dạy là ai? Vị đó đạo hạnh như thế nào? Vì muốn học một pháp môn nào, phải chọn vị thầy dạy có tài, có đức, đạo hạnh song toàn, để mình gởi phần linh hồn đúng không?
Vào năm 1992, Chân An Tự chúng tôi tiếp một vị tu sĩ từ hải ngoại về. Thầy đến để tặng quà cho một số tăng ni trẻ nghèo hiếu học (gần 30 vị).
Chiếc Honda chở thầy dừng lại. Tôi hồi hộp xem vị tăng ni như thế nào? (Lúc đó có rất ít tu sỉ hải ngoại về nước). Một vị ngoại quốc ốm cao, dáng thanh thoát, đầu đội nón tai bèo, chân mang dép da, áo tràng nâu đã bạc mầu sương gió. Thầy là người Pháp sinh tại Việt Nam. Một sự kinh ngạc vô cùng! Nhìn thầy không khác quý cha dòng FRANCISCO khổ hạnh từng ở tại Việt Nam giúp đỡ dân nghèo rất nhiều. Niềm tôn kính xâm chiếm tâm hồn tôi. Đại đa số quý thầy cô ở nước ngoài về ăn mặc sang trọng không khổ chê, còn vị nầy sao khổ hạnh thế? Thầy trang nghiêm ngồi vào ghế. Sau lời giới thiệu và nói ý định giúp đở chư tăng ni đang thiếu thốn để đặng đi học. Thầy đứng lên phát biểu. Lời nó thầy sao mà êm dịu, nhã nhặn, nhắc nhỡ chư tăng ni trẻ, ráng giữ đạo hạnh tu học, chớ buông giải đãi. Ở nước ngoài tu cực lắm, chớ phải sung sướng gì đâu. Thầy cầm từng phong thư (Một Trăm Ngàn Đồng) trao từng vị. Thấy hạnh của Thầy khiêm hạ như thế! Sau cuộc họp mặt thân mật, Thầy ra về. Hình bong vị tu sĩ khổ hạnh nầy làm tôi suy nghĩ mãi. Làm sau hầu chuyện với Thầy một lần để tìm hiểu hạnh tu của vị nầy? Công việc thầy quá bận rộn, không có thời giờ rảnh, biết chừng nào ghé lại đậy Tôi thầm van vái Phật cho con đặng hầu chuyện với vị nầy.
Tự nhiên tuần sau Thầy ghé chùa Từ Quang ban đêm để thăm thầy Nhật Thiện. Thầy muốn ở lại nhưng bên đó khó khăn về chỗ ở, thế là thầy sang Châu An xin ở lại một đêm. Trong khi đại chúng dọn phòng cho thầy, tôi mời thầy ngồi để tìm hiểu về thầy. Tôi hỏi: Bạch Thầy ở Viêt Nam thầy rất khổ, mục đích vượt biên qua Tây Phương tìm cuộc sống thoải mái cho mìnhva` giúp đở người thận. Trái lại nguyên nhân nào Thầy đi xuất gia vào đạo một cách đại hùng đại lực vậy?
Lúc đó Thầy mới tâm sự một cách chân thật về một quãng đời ấu thơ cho đến khi vượt biên đến xứ người và cuối cùng xuất gia vào đạo.
Thầy nói tiếp: Tôi nhập thất 3 năm, 3 tháng, 3 ngày, 3 giờ ở tu viện Phật giáo Tây Tạng bên Pháp. Mãn kỳ nhập thất tôi đi khắp nơi để thuyết giảng giáo lý mà tâm tôi lại chứng ngộ trong khoảng thời gian mật thất. Tôi thưa: Về tình bạn, Thầy may mắn gặp các vị đạo sư chỉ dạy những gì trong mật thất mong Thầy thương những kẻ còn u ám mê mờ, xin Thầy dạy cho. Hoặc sau nầy có tài liệu nào hay về đạo xin thầy gởi cho, để chúng con tham khảo học với. Thầy gật đầu và nói trong mật thất tôi đặng truyền dạy chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM bằng cả tâm lực, và luyện một số động tác Yoga để trợ sức khỏe. Thầy chỉ dạy tôi bắt ấn “Tứ Đại Ngũ Châu” khi trì chú và các phương pháp đặc biệt để mở các Sara. Tôi ghi nhớ bên tai nhưng đầu óc không quan tâm lắm, có ý coi thường câu thần chú đó. Thầy ở lại Việt Nam vài tháng. Cái hạng của Thầy không bút mực nào tả hết. Càng gần Thầy mới thấy kính phục, một hạnh Bồ Tát thể hiện thật sự, chớ không đần môi chót lưỡi. Thầy in mấy trăm triệu tiền kinh sách, dẫn đoàn đi khắp nơi để cúng dường. Những chùa xa xôi hẻo lánh cách lộ 1,2,3 cây số, mặt trời nóng chan chan hoặc mưa dầm dề, một mình Thầy tay xách nách mang đi đến đó để cúng dường kinh sách và tiền (khi ấy chúng tôi trong đoàn không ai chịu xuống đi với Thầy, vì nắng mưa, mệt). Một hai tiếng đồng hồ sau Thầy mới lội bộ ra, nhìn Thầy nét mặt hoan hỉ lạ thường. Thầy cười bảo: Kinh sách là giáo pháp Phật, phải ban truyền khắp nơi để bá tánh hưởng chụng. Đi đến bất cứ chùa nào nghèo thiếu thôn gạo ăn, chùa nào thiếu nước uống, cần khoan giếng, nơi nọ cần hồ chứa nước, hoặc chùa bị dột nát, Thầy đều hổ trợ đúng nhu cầu. Thầy đều nhiệt tâm giúp đở đồng bào nghèo khổ đói rách, có bao nhiêu trong túi móc ra cho, có khi năm bảy chục ngàn có lúc cả trăm ngàn. Khắp nơi nhờ Thầy thuyết pháp. Thầy giảng giáo pháp như tằm nhả tợ. Mọi người nghe xong đều giác ngộ, Thầy cho kinh sách xem đó mà gắng tu.
Tôi nghĩ: Vị sư nầy đã đi đúng hạnh từ bi hỉ xã, đạo lực rất thâm hậu. Mình phải bắt chước tu thôi. Nói thế chớ công việc chùa bận rộn. Rồi Thầy lại về Pháp.
Còn hai tháng rưỡi là Tết Quí Dậu 1993, bỗng mắt tôi bị đau. Tôi vội vàng đi khám phòng mạch tư Bác Sĩ Kính chuyên khoa về mắt ở dốc cầu Kiêu. Bác sĩ cho uống thuốc và nhỏ, nhưng mắt tôi càng ngày càng nặng them, nhức nhối lắm, một chút ánh sang cũng không chịu nổi. Dù Bác Sĩ khám đi khám lạinhie^`u lần, thay đổi thuốc luôn cũng không kết quả. Cuối cùng Bác Sĩ bảo tôi nhiễm si vi trùng rất khó chữa. Việt Nam không có đủ phương tiện, phải đi nước ngoài mới có điều kiện chữa khỏi. Lời tuyên bố của Bác Sĩ làm tôi rụng rời muốn xỉu. Tôi ra về với tâm trạng chán nản, đau khổ, tuyệt vong. Hỡi ơi! Nghiệp báo gì mà nặng nề thế! Nỗi đau đớn này không có bút mực tả hết. Tôi đã khóc rất nhiều, thầm nghĩ tuổi trẻ có làm gì nên tội: 17 tuổi xanh, một nữ sinh Gia Long yêu kiều duyên dáng, đã cắt bỏ mái tóc xanh, trở thành Ni Cô trẻ tại chùa từ năm 1963 có tạo điều gì thất đức với ai đâu? Nghiệp chướng gì mà con trả nặng quá, Phật ơi cứu con!!! Trong một thoáng kém suy nghĩ tôi định tìm cái chết, bèn bảo đệ tử mua cho được một vỹ thuốc ngủ, vì sư cô không ngủ đăng. Đệ tử thấy vậy cũng mua. Buổi sang tôi cầm vĩ thuốc là đã có quyết định rồi. Thì biểu chiều tôi nhận đặng một tài liệu của thầy Phật Đạo từ Pháp gởi qua. Đệ tử mở ra đọc cho tôi nghẹ. Đó là bài giảng về thần lực mầu nhiệm của chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM do đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng tại Pháp; dịch qua tiếng Việt ngữ do Phật tử Phạm Công Thiện. Nghe xong tôi bừng tỉnh nghĩ rằng tạo sao? Tại sao mình không trì chú? Nhờ oai thần của mật chú mà Đức Quán Thế Âm cứu mình. Tôi quyết tâm trì chú, nhờ thần chú giải nghiêp. Thế rồi tôi mò đốt 3 cây hương trong bong tối của tịnh thất, đến bàn thờ tổ quỳ tha thiết cầu xin Đức Quán Thế Âm chứng minh con con trì chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM để giải nghiệp báo than bệnh hoạn của con. Sau lời nguyện tôi ngồi xếp bằng tay kiết ấn “Tứ Đại Ngũ Châu” mà thầy Phập Đạo dạy. Lạ lùng thay, tay vừa bắt ấn xong, tay ấn tự nhiên rung rẩy, rồi toàn thân tôi cũng rung lên. Tôi sợ khiếp quá, bộ mình phạm thượng điều chi đây nên có hiện tượng kỳ lạ nầy? Hôm trước Thầy cũng dạy mình bắt ấn đâu thấy sao? Tôi liền giựt tay ra cũng không ra đặng. Định tâm, suy nghĩ, hay là đắt ấn, Phật chứng cho mình rồi? Qua 5 phút từ từ độ rung không còn nữa. Tôi bắt đầu đem hết tâm trí ra trì 108 biến chú OM MA NI PAD MÉ HUM và 21 biến Đại Bi thần chú. Xong quỳ vang vái Đức Quán Thế Âm xin nước cúng Phật, một ly uống, một ly rửa mặt và nhỏ vô mắt. Sáng mai mở mắt ra thấy bớt nhức. Ngày tôi trì chú 4 thời: 8 giờ sáng, 2 giờ chiều, 7 giờ tối, 12 giờ đêm. Làm y như trên qua ngày thứ nhì bắt ấn không còn run, mắt không còn nhức. Ngày thứ ba thấy dễ chịu trong mắt. Ngày thứ tư thấy rỏ trong bóng tối. Ôi mầu nhiệm vô cùng cực, tôi càng nhập tâm trì chú hơn. Ngày thứ năm, ánh sang lọt qua khe hở nhìn cũng thấy dễ chịu, nhìn ánh dầu nhỏ cũng không thấy lòa mắt. Qua ngày thứ sáu, tôi hé cửa nhìn ra bầu trời, thấy đôi mắt dễ chịu. Ngày thứ bảy sau khi tôi trì chú xong, tôi mở cửa ra sân nhìn tất cả cảnh vật chùa. Ôi! Quá sung sướng! Nỗi vui mừng này không có ngôn từ nào để diễn tả. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cứu mạng cứu bệnh con rồi!!! Oai thần lực của thần chú vô cùng mầu nhiệm linh ứng. Quý Thầy, Sư Cô cùng Phật tử vào thăm ai cũng kinh ngạc trước sự hết bệnh của tôi một cách thần diêu. Đôi mắt tôi tìm lại ánh sáng: Vị ân nhân trợ giúp là Thầy Phật Đạo. Đức Quán Âm chuyển sao mà thầy gởi tài liệu đúng thời, đúng lúc khi tôi hoàn toàn tuyệt vọng. Mong ước sau tôi có đôi cánh bay bổng qua trời Âu đãnh lễ tạ ơn Thầy, cùng chia sẻ nổi vui mừng khôn xiết của kẻ chết đi đặng sống lại. Đó là một chuyện mầu nhiệm linh ứng về thần chú giải đặng nghiệp chướng: TÔI HOÀN TOÀN HẾT BỆNH.

THẦN CHÚ CỘNG HƯỞNG PHƯỚC BÁU CHƯ PHẬT TÁI THIẾT TRÙNG TU CHÂU AN TỰ

Câu chuyện thứ 2, tôi xin kể tiếp cho quý Phật tử rõ, linh ứng mầu nhiệm khi trì chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM để xin phước báu hữu lậu, tái thiết trùng tu Tổ Đình Châu An. Tôi xin nói sơ về nguồn gốc Tổ Đình Châu An do Đức Cao Minh Thiền Sư sáng lập, nối tiếp nhị tổ Hồng Liên Thiền Sư, kế tiếp tam tổ Nhựt Viên Thiền Sư. Hiện tại tôi đặng truyền thừa trụ xứ. Chân An tự trước ở núi Kỳ Vân Long Hải. Khi chiến tranh Pháp bắt buộc xuống núi, Chùa đặng dọn về Gia Định xóm gà. Một căn nhà ngói ba gian, hai mái làm chánh điện và chỗ ở, gần 80 năm thời gian năm tháng mưa nắng đã làm hư hoại. Ngôi Tam Bảo đã xuống cấp trầm trọng, cột kèo, rui, mè mối ăn hết, mái chùa oằn xuống mưa dột nhiều nơi. Đến nổi Ủy Ban Nhân Dân Phường 1, Quận Gò Vấp khuyến cáo chúng tôi : khi mưa to gió lớn không nên ở trong này, phải ra ngoài không khéo nó sập. Nhưng có chỗ nào để ở đâu! Chùa làm phòng thuốc Nam, châm cứu từ năm 1975 đến năm 1990, làm từ thiện 15 năm sống bằng lon gạo bó rau miếng đậu hủ của những thân chủ đền ơn!!! Đầu năm Quí Dậu 1993, tôi bắt đầu đêm đêm tập trung tinh thần vào việc trì chú Đại Bi, chí thành chí nguyện, tha thiết cầu xin Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ban phước, chuyển cho chùa gặp đại quý nhân hằng sản, hằng tâm giúp đở đồng ngân để tái thiết Tam Bảo.
Cuối năm ngày 28 tháng Chạp năm Quí Dậu, lúc 3 giờ chiều tôi tiếp 1 cô gái Phật tử xa lạ từ Pháp trở về. Cô ấy thưa: Sư cô ơi, con về đây với một nhiệm vụ thiêng liêng giao phó. Tôi ngạc nhiên hỏi: Nhiệm vụ thiên liêng là gì? Phật tử đáp: Bạch Sư Cô con xin kể. Con tên Phan Thị Hạnh hiện ngụ tại số 59, Pasteurrue, 91330 Yerres. Con rất thích được đi nghe thuyết pháp. Mỗi khi Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Pháp giảngcon đều đi nghe. Có một lần con đang ngồi nghe giảng, tự nhiên con nhập đinh. Con cảm nhận một luồng ân điển tỏa khắp người; con choàng tỉnh mở mắt ra thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma đang đứng trước con xoa đầu thọ ký. Con vội quỳ lên đãnh lễ. Ngài chú nguyện và ban lời với nụ cười hiền diệu. Ngày ra về, các vị xúm lại chúc lành con! Từ đó, con thích sự vắng lặng thanh tịnh để tâm con được an lành, mọi việc đời tâm con không còn tha thiết nghĩ. Vào đêm 18 tháng Chạp, lúc 12 giờ đêmcon vừa tọa thiền xong nằm xuống nghĩ. Trong cơn nữa tỉnh nữa mê con thấy Đức Quán Thế Âm đi trên một vần mây sáng lòa, đến nơi đầu giường kêu con theo ngài cấp tốc về Việt Nam hổ trợ sự trùng tu tái thiết chùa Châu An.
Cuối năm ngày 28 tháng Chạp năm Quí Dậu, lúc 3 giờ chiều tôi tiếp một cô gái xa lạ từ Pháp trở về. Cô ấy thưa: Sư Cô ơi, con về đây với một nhiệm vụ thiêng liêng giao phó. Tôi ngạc nhiên hỏi: nhiệm vụ thiêng liêng gì? Phật tử đáp: Bạch Sư Cô con xin kể. Con tên Phan Thị Hạnh hiên ngụ tại số 59 Pasteurrue, 91330 Yerres. Con rất thích đi nghe thuyết pháp. Mỗi khi Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Pháp giảng con đều đi nghe. Có một lần con đang ngồi nghe giảng, tự nhiên con nhập đinh. Con cảm nhận một luồn ân điển tỏa khắp người; con choàng tỉnh mở mắt ra thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma đang đứng trước con xoa đầu thọ ký. Con vội quỳ lên đãnh lễ. Ngài chu nguyện và ban lời với nụ cười hiền dịu. ngày ra về, các vị xúm lại chúc lành con! Từ đó, con thích sự vắng lặng thanh tịnh để tâm con được an lành, mọi việc đời tâm con không còn tha thiết nghĩ. Vào đêm 18 tháng Chạp, lúc 12 giờ đêm con vừa tọa thiền xong nằm xuống nghĩ. Trong cơn nữa tỉnh nữa mê con thấy Đức Quán Thế Âm đi trên một vầng mây sáng lòa, đến nơi đầu giường kêu con theo Ngài cấp tốc về Việt Nam hổ trợ sự trùng tu tái thiết chùa Châu An. Con đứng trên đám mây nhỏ phía sau Ngài cùng bay trên không trung vượt qua bao sông biển núi non trùng trùng điệp điệp. Vào đất Việt Nam từ từ hạ xuống tại chùa Châu An, con cùng với Bồ Tát ngồi tiếp chuyện với Sư Cô, tại bộ ghế nầy. Ngài chỉ cho con những chỗ hư hoại xuống cấp trầm trọng của ngôi chùa. Thế rồi con choàng tỉnh dậy và nghĩ đó là giấc mộng. Ngày mai cũng thế! Vừa tu xong nằm xuống thì thấy y như hôm qua. Rồi đêm thứ ba giấc mộng diễn ra y như đêm trước. Con suy nghĩ Đức Quán Thế Âm báo mình phải về Việt Nam tìm đến chùa Châu An để hổ trợ trùng tu. Sáng con kể lại giấc mộng 3 đêm liền cho chồng con nghe. Chồng con bảo: Cận Tết rồi, hôm nay 21 làm sao kịp thủ tục hộ chiếu và vé máy bay. Con trả lời: Nếu Phật gọi em thì Phật lo cho em! Con suy nghĩ cứ tận nhân lực tri thiên mạng, liền lái xe ra tòa Đại Sứ, xin gặp Ngài Đại Sứ và trình giấc mộng ba đêm liên tục như thế mong Ngài giúp đỡ phương tiện. Ngài Đại Sứ cười và nói: Đây cũng là một chuyện lạ, nếu có điều kiện sẵn sàng giúp đở, còn hứa thì Ngài không hứa, vì cận Tết đồng bào về nước quá đông không còn một ghế trống trên máy bay. Con cảm ơn Ngài Đại Sứ ra về và xin gởi số điện thoại lại. Sư Cô có thể nghĩ rằng sự mầu nhiệm như thế nào không? Chưa đầy một tuần sau con nhận điện thoại từ Tòa Đại Sứ báo cho con hay có hai hộ chiếu, hai vé may bay, ông bà có thể về luôn không? (Có một gia đình giờ chót không về nước, nên trả hộ chiếu vé may bay). Vợ chồng con rung luôn, vôi vàng thu xếp hành lý, ngày hôm sau ra phi trường trở về Viêt Nam.
Đúng 5 giờ chiều ngày 27/12 AL, vợ chồng con đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, con tạm ngụ tại nhà bạn. Tối đêm đó con không ngũ đặng cứ lăn lộn mãi, bên tai cứ nghe tiếng thúc giục phải tìm chùa cho nhanh! Đúng 5 giờ chiều ngày 27/12 AL, vợ chồng con đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, con tạm ngụ tại nhà bạn. Tối đêm đó con không ngũ đặng cứ lăn lộn mãi, bên tai cứ nghe tiếng thúc giục phải tìm chùa cho nhanh! Sáng ra con nói để đi tìm chùa Châu An. Chồng con bảo: Mới qua ngồi phi cơ 18 tiếng bộ không mệt sao? Nghĩ 1, 2 hôm rồi đi tìm. Con bảo: Không đặng, nếu không tìm ra chùa thì không đêm nào ngũ đăng. Hãy để em đi tìm chùa cho xong trách nhiệm Phật giao phó! Con nhờ người cháu chở đi, hỏi thăm từ từ các chùa và cuối cùng con đã tìm thấy chùa Chân An đây rồi. Con đưng lặng người bàng hoàng sửng sốt, đúng là cảnh chùa nầy mà ba đêm trong mộng con đã thấy: Từ tượng đài Quán Âm; Tháp Tổ; những gốc nhãn, xoài to lớn; kìa chánh điện mái ngói đã hư; trong chùa kèo cột rui mè bị mối ăn hết; trên trần nhà những tấm la phong mục nát rớt xuống. Phật đã chỉ cho con xem sự hư hoại xuống cấp này, con cũng đặng hầu chuyện với Sư Cô ba đêm liền. Nên khi sư cô ra mở cổng, nhìn gương mặt và dáng đi Sư Cô con đã nhận ra ngay.Kể luôn cả pháp danh của sư cô con cũng biết.
Trước sự việc mà cô Phật tử kể tôi hết sức kinh ngạc, tự nghĩ sự linh ứng mầu nhiệm của thần chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÉ HUM có kết quả một cách thần bí! Cô Phật tử nói: Hôm nay con về Việt Nam với một nhiệm vụ thiêng liêng giao phó: Đó là ủng hộ cho Sư Cô trùng tu chùa Châu An, trước mắt con xin cúng dường Mười triệu đồng Việt Nam. Chừng nào Sư Cô khởi công làm, con có con xin ủng hộ tiếp. Tôi nói trước sự việc quá đột ngột, Sư Cô chưa có dự định trùng tu sớm vì kinh phí nhà chùa còn quá hạn hẹp. Cô Phật tử nói: Chừng nào Sư cô trùng tu thì tùy; nhiệm vụ của con từ Pháp về đây tìm đặng chùa rất là kho khăn. Xin nhận sự đóng góp, cúng dường trùng tu tam bảo, thực thi điều trong mộng để phần tâm linh con đặng nhẹ nhàng, vì ngày mùng 3 Tết con trở qua Pháp. Tôi nhận số tiền, tiễn đưa cô ấy về và trao đổi địa chỉ cùng nhau. Đầu óc tôi bắt đầu lo nghĩ, nửa mừng nửa sợ, nửa nghi nửa ngại.
Đêm cúng giao thừa xong, tôi quỳ trên chánh điện thành tâm tha thiết cầu xin Đức Quán Thế Âm chỉ dạy: Với số tiền chùa có đặng Bốn Chục Triệu Đồng Việt Nam, vậy có thể khởi công tái thiết trùng tu Tam Bảo không?
Những ngày tiếp theo suy nghĩ quá nhiều nên thằng kinh căng thẳng, áp huyết lên cao tôi đã bệnh.
“Bạch Thầy có khách gặp” – Thị giả thưa.
“Con mời Sư Cô Đăng tiếp, Thầy mệt lắm!”
“Bà ấy xin gặp Thầy thôi. Bà ấy đang ngồi trên chánh Điện!”
Tôi cố gắng lên chánh điện tiếp khách. Đó là ngày mồng 6 Tết. Một bà Phật tử đang quỳ lạy Phật, ngó lên thấy tôi buông tiếng nói: “ Sư nữ lại đây cho ta dạy việc”.
Tôi thấy lạ, vì kẻ dùng danh từ Sư nữ nói ra như ra lệnh. Tôi bèn quỳ xuống.
Bà ấy nói: “ Sư nữ ơi! Chuyện không có gì phải lo lắng quá mà mang bệnh. Hãy bình tâm định trí lại. Đây là cơ Phật chuyển, ban thưởng cho Tổ Đình Châu An, xoay chuyển các đệ tử sẽ về rất đông; kẻ của người công đứng ra gánh vác sự trùng tu Tam Bảo. Sư nữ hãy bảo trọng sức khỏe.” Tôi vội chấp tay thưa: Con xin y giáo phụng hành. Xin bề trên hổ trợ cho con xin giấy phép xây dựng đặng dễ dàng.
“Sư nữ yên trí, đệ tử ta lo hết, hãy bình tâm, bình tâm.” Rồi bà ta thở dài (thăng), đứng dậy cúi đầu đãnh lễ Sư Cô, kiếu ra về cầm ở lại không đặng.
Tôi bắt đầu xin giấy phép sửa chữa. Hỏi thăm các chùa đang làm. Quý Thầy Cô cho hay gay lắm. Tốn kém dữ lắm, một hai năm mới có giấy phép.
Tôi cứ nghĩ tận nhân lực tri thiên mạng. Sáng 16 tháng Giêng 1994, tôi vào sở Xây Dựng Thành Phố để hỏi mọi thủ tục, giấy tờ cần thiết khi nộp đơn. Cô Ngân nhân viên Sở ngẫn đầu lên nhìn tôi mà nói: Sư Cô về chùa đi, một chút con vào chùa hướng dẫn Sư Cộ Tôi về chùa, nửa tiếng sau cô dẫn hai người bạn vào chùa lễ Phật.
Trong lúc các cô lễ Phật, tôi đứng đánh chuông thầm vái Đức Quán Thế Âm chuyển những người này giúp đở hồ sơ giấy tờ. Lễ Phật xong xuống phòng tôi đem giấy tờ cái gì nhà chùa có cho cô Ngân xem. Xem xong, cô bảo giấy tờ hợp lệ, nhưng còn thiếu một số giấy tờ, để tụi con giúp cho đủ thủ tục. Cô bảo hai người bạn: Nga vẽ họa đồ vị trí cũ, Ngọc hợp đồng đo đạt đất đai, còn chị nhờ các anh vẽ laplan, mống, cột và chứng các giấy tờ cần thiết. Tôi nói các cô cố gắng giúp đỡ, ơn nầy nhà chùa không quên, sẽ có bồi dưỡng xứng đáng. Các em vội nói: Sư Cô cho tụi con kiếm chút công quả, chúng con hổ trợ nhà chùa vô điền kiện.
Sau khi đầy đủ giấy tờ để nộp đơn, hồ sơ còn phải qua 9 cơ quan rất gay go khó khăn, có những nơi hồ sơ phải nằm lại vài tháng. Nhất là khâu bảo vệ chính tri. Với sự nhất trí của Phật tử, tôi nhờ một cán bộ Mặt Trận, quen biết nhiều để nộp hồ sơ, lo giấy phép xong sẽ bồi dưỡng 10 Triệu. Nhưng hồ sơ bị trả lại khi cậu ta nộp! (???) Thấy vậy tôi lên Chánh Điện cầu nguyện Đức Quán Thế Âm gia hộ cho con đi nộp hồ sơ chùa, gặp đặng quới nhơn giúp đở. Thì y như lời cầu nguyện, đi tới cơ quan nào cũng đều gặp nhân viên vui vẻ cởi mở giải quyết hồ sơ nhanh chóng. Phật đã chuyển người có tâm đạo giúp đỡ để đỡ tốn 10 Triệu phi lý. Song song với việc lo hồ sơ giấy phép, tôi nhận đặng tiền của Phật tử từ xa gần cúng dường hổ trợ trùng tu Tam Bảo.
Vài thángsau nhà chùa có giấy phép, tôi chọn ngày 11-8-1994 khởi công xây phần dưới. Công ty xây dựng Hoàn Mỹ đặng chọn thi công với giá Tám Chục Triệu đồng tiền công. Phần vật tư thì nhà Chùa mua. Trước ngày Công Ty Hoàn Mỹ thi công, tôi tiếp vị Giám Đốc Công Ty. Cậu còn rất trẻ, mới 37 tuổi, gương mặt phúc hậu vui vẽ. Sau một vòng tham quan chùa, trở về Công Ty, cậu chỉ thị ký nhận Năm Chục Triệu đồng, còn cúng lại chùa Ba Chục Triệu đồng để mua vật tư (vì thấy chùa nghèo). Cậu còn ủng hộ hoàn toàn bộ ván coffrage, giàn chống, dụng cụ xây dựng linh tinh (đỡ tốn Sáu Mươi Lăm Triệu đồng về khâu đó).
Còn vật tư Phật tử chạy mua: Xi măng đổ móng cột, sử dụng xi măng Trung Quốc mỗi bao tiết kiệm đặng mười ngàn đồng. Gạch, cát, đá, sắt: đặng Phật tử cho mượn bãi đổ nên mua từ công ty Biên Hòa, chở bằng phương tiện trọng tải lớn, mỗi thứ rẻ đi năm, bảy triệu đồng.
Đại chúng cùng Phật tử phát tâm nhất trí lao động ngày đêm ròng rã một tuần: đập phá dỡ chùa, dời xà bần vào một vị trí, trả mặt bằng để bên thi công đào móng (tiết kiệm khâu đó đặng mười triệu đồng).
Nhiều vị Kiến Trúc Sư, Kỹ Sư xây dựng quen biết với nhau, nghe làm chùa rủ nhau đến, bàn bạc góp ý làm cho bền, chắc, đẹp mà ít hao tốn.
Sự mầu nhiệm linh ứng không thể luận bàn, khắp nơi khi xây dựng bị phát sinh hao tốn lắm. Vậy mà chùa Châu An phát sinh chiết giảm tiết kiệm đặng một số kinh phí lớn.
Cuối năm 1994 hoàn tất phần dưới. Tháng 09-1995 xây tiếp phần trên lầu (Chánh Điện). Đầu năm 1996 xây tiếp hai dãy lầu gồm 14 phòng và dãy nhà bếp. Tổng kinh phí 877,585,000 đồng. Ngày 19-2-1997 vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là ngày Châu An Tự tưng bừng lễ lạc thành. Nhơn thiên chung hưởng phước lành.
Mừng ngày an vị lạc thành Châu An và khi khởi công trùng tu chùa, tôi có báo tin cho thầy Phật Đạo (Thầy là người chỉ dạy bắt ấn “Tứ Đại Ngũ Châu” khi trì chú Đại Bi và chú Om MA NI PAD MÉ HUM bằng tất cả tâm lực). Thầy trả lời đó là nhiệm vụ các vị cứ làm. Thầy không ủng hộ viên gạch nào cả nhưng Thầy đã trao cho tôi chìa khóa, tự mỡ ra mà lấy phước báu chư Phật sử dung. Ghê chưa quí Phật tử. Tôi đang nhập thất, thấy Đức Quán Thế Âm hiện rạ Tôi quỳ đãnh lễ Bồ Tát. Từ đó tâm tôi thôi thúc bảo phải viết lên cho Phật tử biết sự nhiệm mầu linh ứng mà phát tâm trì tụng Đại Bi Thần Chú và chú OM MA NI PAD MÉ HUM để cộng hưởng phước báu chư Phật.

Thiền thất, ngày 15-04 năm Đinh Sửu
Phật lịch-2541- viết xong
Ni Sư Thích Nữ Lệ Phát
Trụ trì CHÂU AN TỰ
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: MP3 những mẫu chuyện linh ứng Bồ Tát Quán Thế Âm   Mon Jun 25, 2012 12:34 pm

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Đặng Bảo
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 214
Join date : 03/03/2012
Age : 21
Đến từ : TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Clip Chú Đại Bi xuất tượng   Mon Jul 02, 2012 9:08 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://phatphapvn.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Topic tất cả về Chú Đại Bi   

Về Đầu Trang Go down
 
Topic tất cả về Chú Đại Bi
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
» Cái Mép - Thị Vải: Đầu mối trung chuyển hàng hóa của khu vực?
» Tìm nơi dạy tiếng anh hàng hải
» Lịch sử và đặc điểm của 300 con tàu nổi tiếng nhất thế giới
» KHÁNH THÀNH NGÔI NHÀ TÌNH BẠN

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: PHẬT HỌC :: KHO TÀNG GIÁO LÝ-
Chuyển đến